Giới thiệu khoa PT Gan mật

20x30 (1)

 

1. Tên khoa: Phẫu thuật Gan - Mật (Hepato-Biliary Surgery)

 

2. Liên hệ:

                 Địa chỉ: Tầng 6, nhà B1 - Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

                 Phòng khám: phòng 262 tầng 2 nhà C2 khu Khám bệnh

                 Điện thoại: (024)38.253.535 (Số máy lẻ: 232, 404)

 

3. Lịch sử hình thành và phát triển:

                 Năm 1977, Giáo sư.Viện sỹ Tôn Thất Tùng, một nhà ngoại khoa lỗi lạc, người nổi tiếng trên toàn thế giới với phương pháp cắt gan mang tên ông, cũng là người đầu tiên quyết định thành lập khoa Phẫu thuật Gan mật.

                 Trải qua hơn 40 năm hoạt động và phát triển, khoa Phẫu thuật Gan mật luôn là một trung tâm ngoại khoa hàng đầu và chuyên sâu trong lĩnh vực khám, điều trị và phẫu thuật các bệnh lý về Gan mật, tuỵ. Hàng năm, đây là nơi thực hiện hàng nghìn ca phẫu thuật khó, phức tạp, chủ yếu là phẫu thuật loại 1, loại đặc biệt như: cắt gan lớn, nhỏ điều trị các khối u tại gan, phẫu thuật cắt khối tá tụy, phẫu thuật điều trị sỏi mật trong và ngoài gan, phẫu thuật nối mật ruột, cắt nang ống mật chủ… và hàng loạt các phẫu thuật kinh điển khác… Bên cạnh đó, với các chuyên gia cố vấn hàng đầu Việt Nam, cùng đội ngũ y bác sỹ được đào tạo bài bản trong và ngoài nước, tập thể các thầy thuốc khoa phẫu thuật gan mật luôn phấn đấu học tập và phát triển các kĩ thuật chuyên sâu về các loại bệnh lí gan mật tụy. Luôn đi đầu áp dụng các kĩ thuật mới với các trang thiết bị hiện đại được bệnh viện trang bị như dụng cụ phẫu thuật nội soi tiêu hóa, gan mật, nội soi mềm để mổ nội soi tán sỏi đường mật trong mổ, các dụng cụ khâu nối máy, dao mổ siêu âm, dao CUSA, dao mổ hàn mạch tiên tiến nhất thế giới. Đến nay hầu hết các kĩ thuật khó, kĩ thuật tiên tiến trên thế giới đã được áp dụng tại khoa, đã mang lại kết quả đáng khích lệ và trở thành các phẫu thuật thường qui tại khoa:

                 Năm 1993, khoa phẫu thuật Gan mật là một trong các đơn vị đã thực hiện thành công các ca mổ cắt túi mật nội soi đầu tiên tại miền Bắc. Tiếp theo là mổ nội soi lấy sỏi đường mật chính từ năm 2000 đánh dấu bước ngoặt trong điều trị.

                  Năm 1999 khoa phẫu thuật Gan mật lần đầu tiên nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nội soi tán sỏi điện thủy lực để điều trị sỏi trong gan – giúp hạ thấp tỉ lệ sót sỏi từ trên 90% xuống còn 10 – 20%. Đặc biệt năm 2010 khoa đã phối hợp với các kỹ sư chế tạo máy của bệnh viện nghiên cứu và ứng dụng thành công hệ thống bơm nước có điều khiển áp lực trong nội soi tán sỏi đường mật trong gan đã đem đến thành tựu to lớn trong việc điều trị các bệnh lý sỏi mật.

                 Năm 2006 lần đầu tiên Việt nam mổ nội soi cắt gan do u được thực hiện tại khoa do các bác sỹ khoa gan mật thực hiện. Đến nay mổ nội soi cắt gan là phẫu thuật thường qui tại khoa phẫu thuật gan mật. Tính đên nay khoa đã thực hiện hàng trăm trường hợp cắt gan nội soi.

                 Năm 2014 khoa đã tiến hành mổ nội soi cắt khối tá tụy do các khối u vùng vater (u phần thấp OMC, u đầu tụy, u vater). Đến nay khoa phẫu thuật gan mật đã và đang thực hiện kĩ thuật mổ nội soi cắt u nang OMC ở người lớn, đây là kĩ thuật rất khó mà ít cơ sở ở Việt nam cũng như trên toàn thế giới thực hiện được.

                 Đây cũng là nơi thực hiện thành công những ca ghép gan đầu tiên từ người cho chết não cũng như từ người cho sống, và là tiền thân của trung tâm ghép tạng ngày nay.

 

4. Nhiệm vụ của khoa:

                 4.1. Khám và điều trị: cho các bệnh nhân mắc bệnh lý về gan, mật tụy

                 Khoa Phẫu thuật Gan mật là một chuyên khoa lớn, đảm nhiệm khám, điều trị và phẫu thuật cho các bệnh nhân mắc:

                 - Các bệnh lý về đường mật: sỏi mật (sỏi túi mật, sỏi đường mật trong và ngoài gan, sỏi tái phát nhiều lần); các bệnh lý túi mật (polip túi mật, u túi mật…); ung thư đường mật, u nang đường mật, u bóng Vater, hẹp đường mật, bệnh lý đường mật bẩm sinh…

                 - Các bệnh lý về gan: Ung thư gan tiên phát và thứ phát, u lành tính của gan, nang gan, xơ gan, áp xe gan, viêm gan virus…

                 - Các bệnh lý về tuỵ: Ung thư tuỵ, u lành tính của tuỵ, viêm tuỵ cấp, viêm tuỵ mạn, nang tuỵ…

                 - Các bệnh lý khác.

                 4.2. Đào tạo và nghiên cứu khoa học:

                 Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực y tế: đào tạo lâm sàng cho sinh viên y khoa thuộc các trường Đại học (Đại học Y Hà Nội, Đại học Y quốc gia…), cho các học viên sau đại học (Bác sĩ nội trú, cao học, định hướng chuyên khoa, chuyên khoa I, chuyên khoa II, nghiên cứu sinh) đào tạo tại chỗ và đào tạo từ xa cho các bác sĩ các tuyến, các học viên điều dưỡng cao đẳng, đại học...

                 Ứng dụng tiến bộ và khoa học công nghệ trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý Gan mật tuỵ, thực hiện đề tài khoa học các cấp (nhiều đề tài cấp cơ sở, cấp Bộ, cấp Nhà nước).

                 4.3. Chỉ đạo tuyến:

                 Tham gia công tác chỉ đạo tuyến và đề án 1816 cũng như đề án chuyển giao các gói kỹ thuật cho các bệnh viện tuyến dưới toàn miền Bắc, theo sự phân công của bệnh viện và Bộ Y tế.

                 4.4. Hợp tác quốc tế:

Hợp tác với các chuyên gia quốc tế (Đức, Pháp, Đài Loan, Nhật, Thái Lan…) trong lĩnh vực chuyên khoa Gan mật, tụy trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học.

                 4.5. Tham gia công tác quản lý chất lượng bệnh viện.

                 4.6. Tham gia công tác phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm hoạ và các phong trào do Ban giám đốc, công đoàn, đoàn thanh niên phát động.

                 4.7. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của bệnh viện.

 

5. Tổ chức nhân sự khoa :

                 5.1.Các trưởng khoa tiền nhiệm:

                 Cố PGS. Nguyễn Thuyên

                 GS.TS. Đỗ Kim Sơn

                 PGS.TS. Đoàn Thanh Tùng

                 BS. Đỗ Mạnh Hùng

                 5.2. Ban lãnh đạo đương nhiệm:

                 Trưởng khoa:            TS. Đỗ Tuấn Anh

                 Phó trưởng khoa:      PGS. TS. Trần Đình Thơ

                                                   TS. Nguyễn Hải Nam

                 Điều dưỡng trưởng:   Cử nhân Trần Bảo Hoa

                 Điều dưỡng trưởng khu vực: Nguyễn Thị Hằng và Đỗ Cẩm Anh .

                 5.3. Cán bộ trong khoa: khoa hiện có 50 cán bộ nhân viên, trong đó gồm có:

                 Các chuyên gia, cố vấn:

                 - 01 Giáo sư, tiến sĩ

                 - 03 Phó Giáo sư, tiến sĩ

                 - 01 Tiến sĩ, bác sĩ

                 Các phẫu thuật viên :

                 - Phó Giáo sư, tiến sĩ: 01

                 - Tiến sĩ: 03

                 - BSCK2 : 01

                 - Thạc sĩ: 03  (Trong đó 1 Bs đang làm NCS , 1 BS đang làm CK2 )

                 Điều dưỡng : 37

                 - Đại học : 10

                 - Cao đẳng : 20

                 - Trung cấp: 7        

                 Trợ giúp chăm sóc: 01

                 6. Thành tựu:

                 6.1. Công tác chuyên môn:

                 Phát huy truyền thống đã đạt dược, với sự tư vấn chuyên môn từ các chuyên gia hàng đầu trong và ngoài nước, với đội ngũ y bác sỹ giỏi về chuyên môn, sáng về y đức, tập thể khoa Phẫu thuật Gan mật luôn phấn đấu học tập và phát triển các kỹ thuật chuyên sâu trong lĩnh vực phẫu thuật Gan mật tụy, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong công tác khám chữa bệnh, cấp cứu, điều trị, phẫu thuật cho các bệnh nhân trong lĩnh vực Gan mật tuỵ. Trung bình hàng năm khoa tiến hành phẫu thuật khoảng 1500 – 1600 ca, phần lớn là các loại phẫu thuật khó, phức tạp, loại 1 và loại đặc biệt.

                 Luôn ứng dụng khoa học công nghệ vào lĩnh vực chuyên môn để theo kịp các nước trong khu vực. Mạnh dạn triển khai các phẫu thuật phức tạp, ít xâm lấn, luôn giữ được vị trí đầu ngành trong cả nước về lĩnh vực chuyên khoa. Số bệnh nhân được khám, điều trị nội trú, được mổ ngày càng tăng. Tỉ lệ tử vong giảm từ 10% trước đây xuống còn 1% như hiện nay. Số bệnh nhân được điều trị và được mổ đạt 150% so với kế hoạch được giao. Toàn bộ cán bộ công nhân viên thực hiện tốt quy chế đạo đức trong chuyên môn, nâng cao tính chuyên nghiệp, thực hiện giao tiếp lịch sự với người bệnh.

                 6.2. Công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học

                 Tham gia giảng dạy cho các đối tượng từ sinh viên, cử nhân điều dưỡng, chuyên khoa định hướng, chuyên khoa cấp I, chuyên khoa cấp II, Thạc sỹ, nghiên cứu sinh, sinh viên nước ngoài, hướng dẫn tốt nghiệp 2 - 4 bác sỹ nội trú/năm.

                 Tham gia thực hiện các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, cấp bộ. Thực hiện các đề tài cấp cơ sở hàng năm.

                 Thực hiện các báo cáo và các nghiên cứu được đăng tải trên các tạp chí trong và ngoài nước.

                 6.3. Công tác chỉ đạo tuyến:

                 Được sự phân công của Ban Giám đốc, khoa đã giúp và đào tạo tại chỗ cho các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến huyện trên toàn miền Bắc về chuyên ngành Gan mật tuỵ.

                 Tham gia đào tạo tại chỗ và giảng dạy cho các bác sỹ tuyến tỉnh và các bệnh viện vệ tinh do Bộ Y tế và Bệnh viện phân công.

                 6.4. Khen thưởng:

                 - Tập thể lao động xuất sắc: 2015, 2016, 2017, 2018, 2019.

                 - Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế: 2012, 2013, 2014, 2015.

                 - Năm 2009 được tặng bằng khen của Bộ trưởng Bộ Y tế và bằng khen của Thủ tướng Chính phủ.

                 - Năm 2012 được tặng Huân chương Lao động hạng 3.

                 Dựa trên thành tích đạt được của năm nay và các danh hiệu đã đạt được trong 5 năm gần đây, tập thể khoa phẫu thuật Gan mật đã vinh dự nhận Huân chương Lao động hạng nhì năm 2019 (QĐ số 271/QĐ – CTN ngày 25/2/2019).

 

7. Định hướng phát triển:

                 Tiếp tục phát huy những thành tích đã đạt được, quan tâm đến công tác điều trị và phục vụ bệnh nhân, hướng tới sự hài lòng của người bệnh.

                 Đặc biệt chú trọng đến việc phát triển và nâng cao kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: nội soi tán sỏi đường mật, phẫu thuật nội soi, sử dụng dao siêu âm Ligasure trong các phẫu thuật về gan mật.

                 Chú trọng đến công tác đào tạo, giảng dạy cũng như công tác nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu ứng dụng đốt sóng cao tần trong mổ, ứng dụng nội soi 3D, nội soi robot trong phẫu thuật Gan mật tuỵ